Hòa thượng Thích Đức Nhuận là ai? Tiểu sử và sự nghiệp

39
Tiểu sử Hòa thượng Thích Đức Nhuận
Tiểu sử Hòa thượng Thích Đức Nhuận

Hòa thượng Thích Đức Nhuận sinh năm 1897 với tên thật là Phạm Đức Hạp tại Nam Định, ông là nhà sáng lập và là Pháp chủ đầu tiên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Ông nắm giữ chức vụ này từ năm 1981 cho đến khi qua đời vào năm 1993.

Tiểu sử và đường lối tu tập

Hòa thượng Thích Đức Nhuận, còn được biết đến với pháp hiệu Thanh Thiệu và pháp tự Đức Huy, sinh năm Đinh Dậu (1897) tại thôn Quần Phương, ngày nay thuộc xóm 10, xã Hải Phương, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Cha của ông là ông Phạm Công Toán, được biết đến với hiệu Thành Phủ, còn mẹ là bà Lê Thị Vụ. Ông là con thứ 6 trong tổng số 8 anh chị em của gia đình.

Dưới bóng dáng gia đình theo truyền thống Nho học, ông bắt đầu hành trình học hành từ khi mới 7 tuổi. Cha ông, một người làm nghề thuốc, thường xuyên đưa ông đến chùa Đồng Đắc tại Kim Sơn, Ninh Bình, một ngôi chùa thuộc dòng thiền Tào Động, để thảo luận về Phật pháp với sư trụ trì. Sự hướng dẫn và ảnh hưởng từ cha đã giúp ông phát triển niềm đam mê với Phật giáo từ khi còn rất nhỏ.

Vào năm Nhâm Tý 1912, khi ông mới 15 tuổi, ông quyết định xuất gia với sự hướng dẫn của sư Thích Thanh Nghĩa, người đang trụ trì tại chùa Đồng Đắc. Sau đó, ông tiếp tục hành trình tìm kiếm sự giáo dục Phật pháp tại chùa Thanh Nộn, Kim Bảng, Hà Nam, dưới sự hướng dẫn của sư Thích Thanh Ninh.

Hòa Thượng Thích Đức Nhuận là một trong những hậu duệ của pháp thứ 44 của Tông Tào Động, một dòng pháp mà được truyền bá từ Thiền sư Động Sơn Lương Giới, người sáng lập Tông Tào Động tại Trung Quốc. Đến thế kỷ 17, Thiền sư Thông Giác Thủy Nguyệt đã du phương từ Trung Quốc sang Việt Nam, cầu pháp và truyền bá pháp môn này vào miền Bắc nước ta.

Trong việc thực hành Phật Pháp, Hòa thượng lấy Pháp Thiền Phản Văn Văn Tự Tính của Bồ Tát Quán Thế Âm làm hướng dẫn, được trình bày trong chương Quán Thế Âm Bồ Tát Nhĩ Căn Viên Thông của Kinh Lăng Nghiêm, như một phương pháp tu tập quan trọng và thiết yếu. Pháp tu này tương tự như các phương pháp tham cứu tu hành của Thiền Tông (như Khán thoại đầu, Chỉ quán đả tọa…), giúp hành giả loại bỏ vọng niệm và vô minh, tiến đến sự siêu việt và chứng ngộ bản thể Phật tính thanh tịnh trong chính mình, giúp thoát khỏi vòng luân hồi của sinh tử. Hòa thượng cam kết thực hành pháp này suốt cuộc đời.

Hòa thượng Thích Đức Nhuận sinh năm 1897 với tên thật là Phạm Đức Hạp tại Nam Định
Hòa thượng Thích Đức Nhuận sinh năm 1897 với tên thật là Phạm Đức Hạp tại Nam Định

Đồng thời, Hòa thượng nhấn mạnh về tầm quan trọng của việc thực hành Phật Pháp theo con đường Giới-Định-Tuệ, đối với các hàng tăng, ni và phật tử. Đây là con đường căn bản và cần thiết để mỗi người có thể nỗ lực tu hành và đạt được sự giải thoát, như lời dạy của Phật: “Bây giờ thì cần giới luật…”.

Hòa thượng cũng trình bày về tinh thần Tam Giáo Đồng Nguyên, cho rằng cả ba tôn giáo Phật-Nho-Lão đều có những điểm tương đồng trong giáo lý và đều hướng con người đến thiện, mặc dù có sự khác biệt về ngôn ngữ và phương tiện thực hành. Ngoài ra, Hòa thượng cũng khuyên các đệ tử sơ cơ nên thực hành pháp môn Tịnh Độ và niệm Phật để mong đạt được vãng sinh Tây Phương Cực Lạc.

Sự nghiệp tu hành của Hoàng thượng Thích Đức Nhuận

Năm 1917, khi 20 tuổi, ông được thụ giới Cụ túc tại chùa Phúc Nhạc (Già Lê tự), tỉnh Ninh Bình. Ban đàn gồm có sư Thích Thanh Khiết làm Hòa thượng đàn đầu, sư Thích Trung Định làm Yết Ma, sư Thích Thanh Phúc làm Giáo thọ, sư Thích Khang Thượng, và sư Thích Thanh Nghĩa làm Tôn chứng.

Sau khi thụ giới, ông tiếp tục học tập tại các tổ đình miền Bắc như: Tổ đình Đào Xuyên (huyện Gia Lâm, Hà Nội) do Tổ Giám Thông Mệnh giảng dạy; Tổ đình chùa Bằng (huyện Thường Tín, Hà Tây); tổ đình chùa Sở (chùa Phúc Khánh, Đống Đa, Hà Nội) do sư Phan Trung Thứ thuyết pháp.

Bên cạnh việc học Phật, ông còn nghiên cứu Nho học, Lão giáo. Năm 42 tuổi, ông thọ giới Bồ Tát, do sư Thích Doãn Hài, viện chủ chùa Tế Xuyên (Nam Hà) chứng đàn.

Năm 1940, ông trở về thừa kế, trụ trì chùa Đồng Đắc. Hoạt động Phật sự đầu tiên của ông là thành lập 2 trường Phật học ở chùa Đồng Đắc và chùa Kỳ Lân (Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình). Trong khoảng thời gian đó, ông thường chủ trì các Trường hạ như: Trường hạ chùa Phúc Nhạc, Trường hạ chùa Đại Hữu, Trường hạ chùa Sơn Thủy (Chùa Non Nước), Trường hạ chùa Lê Xá, Trường hạ chùa Bà Đá.

Năm 1950, Hội Phật giáo tỉnh Ninh Bình mời ông giữ chức Giám luật Phật giáo tỉnh. Năm 1955, sau hòa bình, ông được mời lên Hà Nội để tham gia tổ chức lại Giáo hội. Trong thời gian này, ông trụ trì chùa Phổ Giác (Đống Đa, Hà Nội) để thuận tiện cho việc làm việc tại trụ sở chùa Quán Sứ. Sau đó, một thời gian, ông làm trụ trì chùa Quán Sứ.

Năm 1956, ông trở thành phó Ban Đại diện Phật giáo Thủ đô. Tháng 3 năm 1958, Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam (miền Bắc) thành lập, ông được bầu làm Phó Hội trưởng và giữ vị trí này liên tục qua bốn kỳ đại hội, cho đến năm 1979.

Năm 1969, Hòa thượng Thích Đức Nhuận đến trụ trì chùa Hoằng Ân, nằm ở Quảng Bá, Hà Nội. Cùng lúc này, Hội Phật giáo Thống Nhất Việt Nam mở trường Tu học Phật pháp Trung ương tại đây và ông được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng. Đây là trường Tu học Phật pháp đầu tiên được tổ chức tại miền Bắc sau khi giải phóng. Ông phục vụ tại Quảng Bá suốt gần 20 năm trước khi chuyển về chùa Hòe Nhai.

Năm 1979, sau khi Hòa thượng Thích Trí Độ, Hội trưởng Hội Phật giáo Thống Nhất Việt Nam qua đời, ông được bổ nhiệm làm Quyền Hội trưởng cho đến năm 1981, khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập.

Năm 1980, ông thành lập nghĩa trang tại chùa Huỳnh Cung, Thanh Trì, Hà Nội. Trong năm này, ông cũng được giao trụ trì chùa Hòe Nhai (chùa Hồng Phúc), nơi là Tổ của thiền phái Tào Động. Ông chính thức đảm nhận vai trò này từ năm 1986 cho đến khi viên tịch.

Cũng vào năm 1980, Ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam được thành lập, ông được chọn làm Chứng minh Ban Vận động. Ông dành một năm lưu trú tại chùa Vĩnh Nghiêm (Thành phố Hồ Chí Minh) để đi thăm hỏi, trao đổi và bàn bạc với lãnh đạo các giáo phái Phật giáo tại miền Nam, nhằm thúc đẩy việc thống nhất Phật giáo.

Tháng 11 năm 1981, Hội nghị đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam được tổ chức tại chùa Quán sứ, Hà Nội, để thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Trong Hội nghị này, ông được tôn vinh vị Pháp chủ Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Khi đó, ông đã 84 tuổi. Từ năm 1981 cho đến khi qua đời, Hòa thượng Thích Đức Nhuận giữ ngôi vị Pháp chủ.

Vào 5 giờ 5 phút ngày 11 tháng 11 năm Quý Dậu (23 tháng 12 năm 1993), Hòa thượng Pháp chủ Thích Đức Nhuận viên tịch tại chùa Hòe Nhai, hưởng thọ 96 tuổi, trong đó 77 năm dành cho tu hành. Sau lễ tang, Hòa thượng được an táng tại bảo tháp trong chùa Hoằng Ân, Quảng Bá, Hà Nội.

Tổng hợp bởi Duan24h.net


Theo dõi nhận tin mới và gửi yêu cầu hỗ trợ
TIKTOK | ZALO | TELEGRAM
| FACEBOOK
Đóng góp nội dung, tài liệu liên hệ Zalo 0813.830.830 và nếu thấy nội dung này hữu ích xin hãy chia sẻ.

5/5 - (1 bình chọn)
Bài trướcSư thầy Giác Minh Luật là ai? Tiểu sử và những câu nói nổi tiếng
Bài tiếp theoCông ty Công Minh hoạt động như thế nào? Ai đứng sau?

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây